A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tiết học minh họa " Học tập cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề định hướng tiếp cận năng lực học sinh” trong môn Toán lớp 3

Tổ chức cho HS học tập cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề là một mô hình điểm mà trường tiểu học Đồng Phúc – Yên Dũng đang áp dụng và mang lại hiệu quả cao dưới sự quan tâm và chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường. Thông qua học tập cộng tác, HS có cơ hội rõ ràng và đầy đủ nhất để hình thành, phát triển các năng lực và phẩm chất mà chương trình GDPT 2018 hướng tới.  

Thực hiện theo hướng dẫn về Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học; dưới sự chỉ đạo, tư vấn của BGH nhà trường, tổ 2 + 3 đã xác định rõ nhiệm vụ phát triển chuyên môn cho mọi thành viên trong tổ. Để chuẩn bị tốt trước mỗi buổi SHCM hàng tuần, mọi thành viên trong tổ đều tập trung nghiên cứu, trao đổi, thảo luận cùng xây dựng kế hoạch bài dạy chuẩn bị cho GV tiến hành bài giảng minh họa.

Trong chương trình môn Toán của lớp 2, lớp 3, việc tổ chức và hướng dẫn học sinh thành lập các bảng nhân là một mảng kiến thức trọng tâm, nó chiếm phần lớn thời lượng trong phân phối chương trình của cả năm học. Ở lớp 2, HS đã học ý nghĩa của phép nhân; các bảng nhân 2; 3; 4; 5; 6. Lên lớp 3, HS học tiếp các bảng nhân 6; 7; 8; 9. HS có thể tự học và giải quyết vấn đề dựa trên hiểu biết đã học ở các lớp trước hoặc bài học trước để tự tìm ra cách lập các bảng nhân và có thêm hiểu biết mới. Từ đó, GV đã giúp HS hình thành và phát triển các năng lực tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Theo đó, việc HS dựa vào hiểu biết ý nghĩa của phép nhân, các bảng nhân đã học ở lớp 2 để tự xây dựng các bảng nhân mới ở lớp 3 là việc cần thiết và khả thi. Vì vậy, sau khi trao đổi, chúng tôi đã cùng nhau xây dựng kế hoạch bài dạy Bảng nhân 9 – Toán lớp 3 và được cô giáo Bế Thị Thanh Mai, một giáo viên trẻ vừa ra trường dạy minh họa trong buổi SHCM ngày 9/12/2020 tại trường.

Bài viết này, tôi chia sẻ cùng các bạn một ví dụ thực tế về tiết dạy minh họa với phương pháp tổ chức cho HS học tập cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực học sinh.Hy vọng quý thầy cô có thể tham khảo, vận dụng và cùng trao đổi.

 

 

 

A. Thiết kế bài học.

BẢNG NHÂN 9

I. Mục tiêu:

1. Kiến thức –Kĩ năng

- HS tự lập được các phép tính trong bảng nhân 9 dựa vào điều đã học

- Thuộc bảng nhân 9; vận dụng bảng nhân 9 để làm bài tập.

2. Năng lực:

- Phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề; chủ động chia sẻ, hợp tác, biết đặt và trả lời các câu hỏi (về ý nghĩa bảng nhân 9, mối quan hệ phép nhân và phép cộng, cách thức vận dụng bảng nhân 9 vào giải toán,...).

3. Phẩm chất:

- HS chăm học, đoàn kết giúp đỡ bạn.

II. Đồ dùng dạy học:

-  Bảng phụ chép sẵn các bài tập, phiếu học tập cho mỗi HS.

III. Các hoạt động dạy học chủ yếu:

Hỗ trợ của giáo viên

Hoạt động của học sinh

1. Khởi động

- GV: Em hãy nêu ý nghĩa của phép nhân trong bảng nhân 8 đã học (8x1 nghĩa là gì?...).  8x1 ; 8x 2 ; 8x3…

- GV nhắc lại ý nghĩa của phép nhân.

 

2. Bài mới:

- GV hỏi:  Các em đã học những bảng nhân nào? Trong các bảng nhân đã học, em tìm những phép tính được nhân với số 9?

- GV ghi bảng các phép tính.

- Yêu cầu HS nêu ý nghĩa 1 số phép tính

 

 

- GV nêu vấn đề: Các phép tính trong bảng nhân 9 sẽ như thế nào?

(GV gợi ý: Bảng nhân 9 sẽ có mấy phép tính? Em sẽ bắt đầu từ phép tính nào? Thừa số thứ nhất, thứ hai thế nào? Kết quả/tích thế nào?...).

- GV cho HS thoải mái nêu ý kiến đoán.

 

 

 

 

- GV: Làm thế nào để kiểm tra các phỏng đoán của em là đúng?

GV choHS nêu hoặc trao đổi nhóm nếu cần

 

 

 

 

 

- GV cho HS học tập cộng tác để thực hiện giải pháp với nhiệm vụ: Viết ra bảng con các phép tính thuộc Bảng nhân 9.

GV quan sát, giúp đỡ HS gặp khó khăn, đảm bảo mỗi HS đều viết được một số hoặc tất cả các phép tính trong bảng nhân 9 theo các cách đã nêu.

GV hỗ trợ HS khó khăn khi tìm 9x9; 9x10;…. Bằng cách đếm thêm 9 ở kết quả phép tính trước hoặc tính KQ phép cộng các số hạng 9.

 

- GV tổ chức cho HS chia sẻ kết quả về bảng nhân 9 trước cả lớp.

 

 

 

 

 

 

 

- GV giới thiệu ghi tên bài học.

 

* GV đưa tình huống:

Hai bạn tranh luận: Phép tính 8x9 có trong bảng nhân 9 không?Vì sao?

- GV gợi ý HS nêu được điểm của thừa số thứ nhất, thứ 2, các tích trong bảng nhân 9.

 

- GV lưu ý đặc điểm các phép tính trong bảng nhân 9.

- GV phân tích để HS thấy sự khác nhau về ý nghĩa của 8x9 và 9x8 để HS vận dụng khi giải toán có lời văn giúp HS không nhầm lẫn khi viết phép tính nhân.

 

- GV kết luận đúng về bảng nhân 9.

 

 

- GV tổ chức cho HS học thuộc bảng nhân 9 (đọc to-nhỏ-nhẩm- thầm); GV xóa dần kết quả,…).

 

HS nêu ý nghĩa phép nhân: 8x1 nghĩa là:  8 được lấy 1 lần. 8x2 nghĩa là: 8 được lấy 2 lần…

- HS nêu những bảng nhân đã học:(2,3,4,5,6,7,8)

HĐ 1. Lập bảng nhân 9:

 

- HS nối tiếp nêu các phép tính có nhân với số 9 và kết quả.

VD: 2 x 9=18; 3 x 9=27; 4 x 9= 36 …

 

 

- HS nêu: VD 6 x 9 có nghĩa là 6 được lấy 9 lần….

 

Bước 1: Nêu vấn đề:

HS nghe/suy nghĩ.

- Bước 2: Phỏng đoán:

1 số HS nêu ý kiến:

VD:  Bảng nhân 9 có 10 phép tính

 - Em bắt đầu bằng phép tính 9x1

- Thừa số thứ nhất sẽ là 9

- Thừa số thứ 2 là các số lần lượt từ 1 đến 10

- Tích sẽ là kết quả của các số 9 được lấy bao nhiêu lần đó…

- Bước 3: Đưa ra giải pháp:

- Em dựa vào ý nghĩa của phép nhân.

- Em dựa vào 1 số phép tính nhân với số 9 ở các bảng nhân đã học.

- Em đếm thêm 9 ở kết quả 1 số phép tính nhân với số 9 ở các bảng nhân đã học.

- Em kết hợp cả các cách…

 

- Bước 4: Tiến hành lập bảng nhân 9 (3 bước học tập cộng tác: cá nhân- nhóm nhỏ-chia sẻ cả lớp)

B1: HS làm việc cá nhân: viết các phép tính trong bảng nhân 9 ra nháp.

B2: Chia sẻ với bạn cách tính kết quả các phép tính.

B3: Chia sẻ trước lớp. 1 HS trình bày bảng nhân 9 trên bảng phụ. HS phát triển thêm về cách tìm kết quả.

 

VD: - Làm thế nào bạn tính được kết quả của phép tính 9x3; 9x9? ( HS nêu nhiều cách làm khác làm khác nhau).

- Bảng nhân của bạn có mấy phép tính?....

- Nhận xét về các thừa số, kết quả ở bảng nhân 9 ?

- HS thoải mái chia sẻ:

VD: 9x8 có nghĩa là số 9 được lấy 8 lần....

 

 

- HS nêu ý kiến

VD:-  …có thuộc bảng nhân 9  vì 8x9=72

-… không phải,không có trong bảng nhân 9

HS đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau.

 

+Phép tính đó không thuộc bảng nhân 9, vì....thừa số thứ nhất phải là số 9, thừa số thứ 2 là…….tích là….

+ Vì trong phép tính đó thì 8 được lấy 9 lần chứ không phải 9 được lấy 8 lần…

8x9 = 8 + 8 + 8 + 8 + 8 + 8 + 8 + 8 + 8

9x8= 9 + 9 + 9 + 9 + 9 + 9 + 9 + 9

Bước 5: Kết luận:

HS nhận ra các phép tính đã làm là bảng nhân 9, đặc điểm của bảng nhân 9.

HS đọc thuộc bảng nhân 9 theo hướng dẫn.

 

- GV phát phiếu; hướng dẫn HS làm bài theo 3 bước Học tập cộng tác.

- GV quan sát, hỗ trợ HS gặp khó khăn.

- Tổ chức cho HS chia sẻ trước lớp

GV đảm bảo HS nhận ra các phép tính trong Bảng nhân 9, giải thích được ý nghĩa 1 số phép nhân 9.

 

 

- GV quan sát, làm rõ hơn các vấn đề liên quan đến BT.

- GV NX cách làm đúng và nhanh nhất.

 

- GV nhấn mạnh lại cách nhận dạng và cách giải bài toán gấp 1 số lên nhiều lần.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Hãy nêu các tích của bảng nhân 9

- Trong trường hợp chưa thuộc bảng nhân 9, em nhẩm tích bằng cách nào?

 

GV nhắc HS:

- Em lấy một số ví dụ về việc sử dụng phép tính trong bảng nhân 9 ở gia đình hoặc trong lớp mình(GV hướng dẫn HS có thể trao đổi, cùng tìm với bố mẹ, người thân).

- Nhắc HS tự học thuộc bảng nhân 9.

HĐ 2. Luyện tập.

- HS làm bài tập 1,2 trong phiếu theo các bước học tập cộng tác.

* Bài 1: Tính  nhẩm.

- 1 HS trình bày bài trên bảng phụ. HS chia sẻ cách làm và khắc sâu:

VD: Ở BT1 có phép tính nào không có trong bảng nhân 9.

Vì sao 9x0 =0? 0x9 = 0…….

* Bài 2: Tính

- Bạn thực hiện phép tính theo mấy bước?

 

 

* Bài 3.Bài toán

- HS làm vở,1 HS trình bày lời giải trên bảng phụ. HS khác hỏi đáp, chia sẻ về cách làm.

VD: Tại sao tìm số bạn lớp 3B lại làm phép nhân?

-Mình làm phép tính 3x9 = 27 (bạn) có được không?

-Mình lấy: 9+ 9+9 = 27 ( bạn ) có được không? Vì sao?

- Bài toán này thuộc dạng toán nào?.....

* Bài 4: HS nói nhanh các tích của bảng nhân 9

- Mỗi lần em đếm thêm 9 vào kết quả của tích ngay trước đó thì được tích cần tìm

HĐ3: Liên hệ mở rộng

HS tự thực hiện ở nhà.

 

     

      B. Một số điều cảm nhận sau bài học minh họa.    

Sau khi quan sát tiết học, tất cả GV đều cảm nhận được hiệu quả rõ rệt với     cách tổ chức cho học sinh được học tập cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề. Học sinh dựa trên kiến thức của các bài đã học, tự xây dựng được các phép tính trong Bảng nhân 9 một cách chủ động, hiểu bản chất nên sẽ nhớ rất lâu mà không phải chỉ thuộc vẹt. Học sinh được học tập thật sự, suy nghĩ sâu về bài học. Các em học tập rất hào hứng vì được tự mình tìm ra kết quả các phép tính theo các cách khác nhau, mà không theo một quy trình áp đặt hay một cách làm đường mòn quen thuộc từ trước.

 

    

HS đang suy nghĩ và đưa ra các phán đoán về kết quả, cách lập bảng nhân 9 (dự đoán kết quả, đưa ra các giải pháp)

Qua quá trình học cá nhân, học sinh bộc lộ rõ năng lực tư học, tự giải quyết vấn đề. Khi chia sẻ trước lớp, các bạn được thoải mái trao đổi, thể hiện suy nghĩ hay cách giải thích của bản thân, bộc lộ những ý kiến hay, cách làm mới. Qua đó phát huy năng lực giao tiếp hợp tác, mạnh dạn khi chia sẻ, biết đặt và trả lời các câu hỏi phù hợp liên quan đến bài học. Từ đó phát huy năng lực sáng tạo, độc lập suy nghĩ của HS.

 

   

HS làm việc cá nhân - chia sẻ nhóm, trước lớp  để tự lập bảng nhân 9 (thực hiện giải pháp)

Trong quá trình tranh luận, chia sẻ đã giúp các em phát triển ngôn ngữ, đồng thời giúp các em tự nhận ra những ưu điểm, tồn tại của mình, của bạn và tự biết sửa sai. Như vậy, trong giờ học, không chỉ đơn thuần là giao tiếp Thày – Trò mà HS được trao đổi, phản biện giữa Trò – Trò một cách cởi mở, thân thiện cùng giúp nhau tiến bộ

  

Học sinh tự biết sửa lại điều mình làm chưa chính xác

Trong tiết học, GV đã khéo léo thu hút HS tập trung vào giải quyết tình huống nhằm khắc sâu kiến thức bài học. Đó là tính huống Phép tính 8 x 9 có thuộc bảng nhân 9 không? Vì sao?

 

Ánh mắt long lanh, hứng khởi khi thắc mắc, băn khoăn  của mình được giải đáp

 

HS hình thành sự hợp tác, chia sẻ ngẫu nhiên khi vấn đề nảy sinh

 

Tuy nhiên, khi tiến hành tiết dạy theo tiến trình QGVĐ sẽ có một số học sinh gặp khó khăn trong học tập vì phải tự giải quyết vấn đề một cách độc lập. Điều này cần sự hỗ trợ của giáo viên hay qua quá trình chia sẻ với bạn, những khó khăn đó sẽ được tháo dỡ dần dần.

 

Hợp tác, trao đổi và chia sẻ dường như đã thành thói quen với HS khi GV thường xuyên tổ chức tiết học theo hướng Giải quyết vấn đề.

 

Như vậy, để hình thành và phát triển về tư duy, năng lực và phẩm chất của HS, mỗi GV nên nghiên cứu chương trình từng môn học, bài học để lập được kế hoạch và lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp. Trong đó việc sử dụng phương pháp dạy học theo hướng Giải quyết vấn đề cần chủ động, tích cực và thường xuyên. Với chương trình GDPT mới 2018, phương pháp này được coi như một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cao nhằm đạt được mục tiêu của giáo dục đề ra.

 

 


Tác giả: Trần Thị Nguyệt
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan